Tìm kiếm

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

7 bài toán thiên niên kỷ (Millennium Problems)



Một triệu đô la dành cho ai giải được bất kỳ bí ẩn nào trong số bảy bí ẩn toán học. Đó chính là phần thưởng do một tổ chức tư nhân nêu ra nhằm đưa toán học trở lại vị trí xứng đáng của nó. Và dĩ nhiên, cũng để trả lời những câu hỏi lớn vẫn làm đau đầu các nhà toán học bấy lâu nay.
7 bài toán ” Clay ” đặt ra cho ” thiên kỉ ” cũng theo tinh thần Hilbert, nghĩa là bao gồm toàn bộ các lãnh vực toán học. Người ta có thể thấy hơi ” kì ” : người ” ra đề ” không phải là một cơ quan chính thức như Liên hiệp quốc tế toán học hay Hội toán học Pháp, mà lại là một cơ sở tư nhân. Sự thật là ngày nay không có, không thể có một nhà toán học ” phổ quát ” nữa _ toán học đã trở thành quá mênh mông. Không còn minh chủ được quần hùng một lòng tôn vinh, thì lại càng nên tránh để nổ ra những cuộc xung đột giữa các môn phái. Vả lại, kiếm đâu ra mấy triệu $, nếu không gõ cửa tư nhân? Dù sao, Hội đồng khoa học của Viện Clay (tập hợp những chuyên gia kiệt xuất trong tất cả các ngành toán học, và đầu tiên phải kể tên Andrew Wiles, người đã chứng minh ” định lí cuối cùng của Fermat “) đã đánh liều tiếp nối con đường của Hilbert để nêu ra 7 bài toán cho thế kỉ 21.

1. Giả thuyết Poincaré
Henri Poincare (1854-1912), là nhà vật lý học và toán học người Pháp,một trong những nhà toán học lớn nhất thế kỷ 19. Giả thuyết Poincaré do ông đưa ra năm 1904 là một trong những thách thức lớn nhất của toán học thế kỷ 20.
Lấy một quả bóng (hoặc một vật hình cầu), vẽ trên đó một đường cong khép kín không có điểm cắt nhau, sau đó cắt quả bóng theo đường vừa vẽ: bạn sẽ nhận được hai mảnh bóng vỡ. Làm lại như vậy với một cái phao (hay một vật hình xuyến): lần này bạn không được hai mảnh phao vỡ mà chỉ được có một.
Trong hình học topo, người ta gọi quả bóng đối lập với cái phao, là một về mặt liên thông đơn giản. Một điều rất dễ chứng minh là trong không gian 3 chiều, mọi bề mặt liên thông đơn giản hữu hạn và không có biên đều là bề mặt của một vật hình cầu.
Vào năm 1904, nhà toán học Pháp Henri Poincaré đặt ra câu hỏi: Liệu tính chất này của các vật hình cầu có còn đúng trong không gian bốn chiều. Điều kỳ lạ là các nhà hình học topo đã chứng minh được rằng điều này đúng trong những không gian lớn hơn hoặc bằng 5 chiều, nhưng chưa ai chứng minh được tính chất này vẫn đúng trong không gian bốn chiều.

2. Vấn đề P chống lại NP
Với quyển từ điển trong tay, liệu bạn thấy tra nghĩa của từ “thằn lắn” dễ hơn, hay tìm một từ phổ thông để diễn tả “loài bò sát có bốn chân, da có vảy ánh kim, thường ở bờ bụi” dễ hơn? Câu trả lời hầu như chắc chắn là tra nghĩa thì dễ hơn tìm từ.
Những các nhà toán học lại không chắc chắn như thế. Nhà toán học CanadaStephen Cook là người đầu tiên, vào năm 1971, đặt ra câu hỏi này một cách “toán học”. Sử dụng ngôn ngữ lôgic của tin học, ông đã định nghĩa một cách chính xác tập hợp những vấn đề mà người ta thẩm tra kết quả dễ hơn (gọi là tập hợp P), và tập hợp những vấn đề mà người ta dễ tìm ra hơn (gọi là tập hợp NP). Liệu hai tập hợp này có trùng nhau không? Các nhà lôgic học khẳng định P # NP. Như mọi người, họ tin rằng có những vấn đề rất khó tìm ra lời giải, nhưng lại dễ thẩm tra kết quả. Nó giống như việc tìm ra số chia của 13717421 là việc rất phức tạp, nhưng rất dễ kiểm tra rằng 3607 x 3808 = 13717421. Đó chính là nền tảng của phần lớn các loại mật mã: rất khó giải mã, nhưng lại dễ kiểm tra mã có đúng không. Tuy nhiên, cũng lại chưa có ai chứng minh được điều đó.
“Nếu P=NP, mọi giả thuyết của chúng ta đến nay là sai” – Stephen Cook báo trước. “Một mặt, điều này sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề tin học ứng dụng trong công nghiệp; nhưng mặt khác lại sẽ phá hủy sự bảo mật của toàn bộ các giao dịch tài chính thực hiện qua Internet”. Mọi ngân hàng đều hoảng sợ trước vấn đề lôgic nhỏ bé và cơ bản này!

3. Các phương trình của Yang-Mills
Các nhà toán học luôn chậm chân hơn các nhà vật lý. Nếu như từ lâu, các nhà vật lý đã sử dụng các phương trình của Yang-Mills trong các máy gia tốc hạt trên toàn thế giới, thì các ông bạn toán học của họ vẫn không thể xác định chính xác số nghiệm của các phương trình này.
Được xác lập vào những năm 50 bởi các nhà vật lý Mỹ Chen Nin Yang vàRobert Mills, các phương trình này đã biểu diễn mối quan hệ mật thiết giữa vật lý về hạt cơ bản với hình học của các không gian sợi. Nó cũng cho thấy sự thống nhất của hình học với phần trung tâm của thể giới lượng tử, gồm tương tác tác yếu, mạnh và tương tác điện từ. Nhưng hiện nay, mới chỉ có các nhà vật lý sử dụng chúng…

4. Giả thuyết Hodge
Euclide sẽ không thể hiểu được gì về hình học hiện đại. Trong thế kỷ XX, các đường thẳng và đường tròn đã bị thay thế bởi các khái niệm đại số, khái quát và hiệu quả hơn. Khoa học của các hình khối và không gian đang dần dần đi tới hình học của “tính đồng đẳng”. Chúng ta đã có những tiến bộ đáng kinh ngạc trong việc phân loại các thực thể toán học, nhưng việc mở rộng các khái niệm đã dẫn đến hậu quả là bản chất hình học dần dần biến mất trong toán học. Vào năm 1950, nhà toán học người Anh William Hodge cho rằng trong một số dạng không gian, các thành phần của tính đồng đẳng sẽ tìm lại bản chất hình học của chúng…

5. Giả thuyết Riemann
2, 3, 5, 7, …, 1999, …, những số nguyên tố, tức những số chỉ có thể chia hết cho 1 và chính nó, giữ vai trò trung tâm trong số học. Dù sự phân chia các số này dường như không theo một quy tắc nào, nhưng nó liên kết chặt chẽ với một hàm số do thiên tài Thụy Sĩ Leonard Euler đưa ra vào thế kỷ XVIII. Đến năm 1850, Bernard Riemann đưa ra ý tưởng các giá trị không phù hợp với hàm số Euler được sắp xếp theo thứ tự.
Giả thuyết của nhà toán học người Đức này chính là một trong 23 vấn đề mà Hilbert đã đưa ra cách đây 100 năm. Giả thuyết trên đã được rất nhiều nhà toán học lao vào giải quyết từ 150 năm nay. Họ đã kiểm tra tính đúng đắn của nó trong 1.500.000.000 giá trị đầu tiên, nhưng … vẫn không sao chứng minh được. “Đối với nhiều nhà toán học, đây là vấn đề quan trọng nhất của toán học cơ bản” – Enrico Bombieri, giáo sư trường Đại học Princeton, cho biết. và theo David Hilbert, đây cũng là một vấn đề quan trọng đặt ra cho nhân loại.
Bernhard Riemann (1826-1866) là nhà toán học Đức. Giả thuyết Riemann do ông đưa ra năm 1850 là một bài toán có vai trò cực kỳ quan trọng đến cả lý thuyết số lẫn toán học hiện đại.

6. Các phương trình của Navier-Stokes
Chúng mô tả hình dạng của sóng, xoáy lốc không khí, chuyển động của khí quyển và cả hình thái của các thiên hà trong thời điểm nguyên thủy của vũ trụ. Chúng được Henri Navier và George Stokes đưa ra cách đây 150 năm. Chúng chỉ là sự áp dụng các định luật về chuyển động của Newton vào chất lỏng và chất khí.
Tuy nhiên, những phương trình của Navier-Stokes đến nay vẫn là một điều bí ẩn của toán học: người ta vẫn chưa thể giải hay xác định chính xác số nghiệm của phương trình này. “Thậm chí người ta không thể biết là phương trình này có nghiệm hay không” – nhà toán học người Mỹ Charles Fefferman nhấn mạnh –“Điều đó cho thấy hiểu biết của chúng ta về các phương trình này còn hết sức ít ỏi”.

7. Giả thuyết của Birch và Swinnerton-Dyer:
Những số nguyên nào là nghiệm của phương trình x2+y2=z2 ? có những nghiệm hiển nhiên, như 3x3+4x4=5x5. Và cách đây hơn 2300 năm, Euclide đã chứng minh rằng phương trình này có vô số nghiệm. Hiển nhiên vấn đề sẽ không đơn giản như thế nếu các hệ số và số mũ của phương trình này phức tạp hơn…
Người ta cũng biết từ 30 năm nay rằng không có phương pháp chung nào cho phép tìm ra số các nghiệm nguyên của các phương trình dạng này. Tuy nhiên, đối với nhóm phương trình quan trọng nhất có đồ thị là các đường cong êlip loại 1, các nhà toán học người Anh Bryan Birch và Peter Swinnerton-Dyer từ đầu những năm 60 đã đưa ra giả thuyết là số nghiệm của phương trình phụ thuộc vào một hàm số f: nếu hàm số f triệt tiêu tại giá trị bằng 1 (nghĩa là nếu f(1)= 0), phương trình có vô số nghiệm. nếu không, số nghiệm là hữu hạn.
Giả thuyết nói như thế, các nhà toán học cũng nghĩ vậy, nhưng đến giờ chưa ai chứng minh được…
Người ta thấy vắng bóng ngành Giải tích hàm (Functional analysis) vốn được coi là lãnh vực vương giả của nghiên cứu toán học. Lý do cũng đơn giản : những bài toán quan trọng nhất của Giải tích hàm vừa mới được giải quyết xong, và người ta đang đợi để tìm được những bài toán mới.
Một nhận xét nữa : 7 bài toán đặt ra cho thế kỉ 21, mà không phải bài nào cũng phát sinh từ thế kỉ 20. Bài toán P-NP (do Stephen Cook nêu ra năm 1971) cố nhiên là bài toán mang dấu ấn thế kỉ 20 (lôgic và tin học), nhưng bài toán số 4 là giả thuyết Riemann đã đưa ra từ thế kỉ 19. Và là một trong 3 bài toán Hilbert chưa được giải đáp !
Một giai thoại vui: Vài ngày trước khi 7 bài toán 1 triệu đôla được công bố, nhà toán học Nhật Bản Matsumoto (sống và làm việc ở Paris) tuyên bố mình đã chứng minh được giả thuyết Riemann. Khổ một nỗi, đây là lần thứ 3 ông tuyên bố như vậy. Và cho đến hôm nay, vẫn chưa biết Matsumoto có phải là nhà toán học triệu phú đầu tiên của thế kỉ 21 hay chăng…
Trong số 7 bài toán trên có 1 bài đã được chứng minh. Đó là giả thuyết Poincaré. Cuối năm 2002, nhà toán học Nga Grigori Perelman tại Viện toán học Steklov (St. Petersburg, Nga) công bố chứng minh Giả thuyết Poincaré. Và mới đây, vào tháng 6 năm 2004, tin tức về việc chứng minh giả thuyết Riemann của nhà toán học Louis De Branges ở Đại học Purdue cũng được công bố và hiện vẫn đang trong giai đoạn kiểm tra. Cũng xin lưu ý là trong số 7 bí ẩn toán học này, thì hai bài toàn này thuộc loại “xương” hơn cả (dĩ nhiên cái này cũng tương đối) thế nhưng nó lại (có thể) được chứng minh trước. Tuy nhiên có thể dễ dàng lý giải điều này, vì đây là hai bài toán có vai trò rất quan trọng trong cả lĩnh vực của nó lẫn trong toán học hiện đại nói chung (nhất là giả thuyết Riemann). Chúng ta cùng chờ xem sự thẩm định của các nhà toán học.

Nguồn: mathvn.com (Theo CLAY Math)

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011

52 nhà toán học từng đoạt giải Fields

Mặt trước của huân chương Fields có hình của nhà toán học Archimedes

Giải thưởng Fields do nhà toán học Canada John Charles Fields sáng lập lần đầu được trao vào năm 1936 và từ năm 1950 được trao đều đặn. Mục đích của giải thưởng là sự công nhận và hỗ trợ các nhà toán học trẻ đã có những đóng góp quan trọng cho toán học. Sau đây là danh sách 52 nhà toán học từng đoạt giải Fields:
2010: Elon Lindenstrauss (Israel), Ngô Bảo Châu (Việt Nam), Stalislav Smiarnov, (Thụy Sĩ) và Cedric Villani (Pháp)
2006: Terence Tao (Úc/Mỹ), Grigori Perelman (Nga), Andrei Okounkov (Nga/Mỹ), Wendelin Werner (Pháp)
2002: Laurent Lafforgue (Pháp), Vladimir Voevodsky (Nga/Mỹ)
1998: Richard Ewen Borcherds (Anh), William Timothy Gowers (Anh), Maxim Kontsevich (Nga), Curtis T. McMullen (Mỹ)
1994: Efim Isakovich Zelmanov (Nga), Pierre-Louis Lions (Pháp), Jean Bourgain (Bỉ), Jean-Christophe Yoccoz (Pháp)
1990: Vladimir Drinfeld (Liên Xô), Vaughan Frederick Randal Jones (New Zealand), Shigefumi Mori (Nhật Bản), Edward Witten (Mỹ)
1986: Simon Donaldson (Anh), Gerd Faltings (Tây Đức), Michael Freedman (Mỹ)
1982: Alain Connes (Pháp), William Thurston (Mỹ), Shing Tung Yau (Trung Quốc/Mỹ)
1978: Pierre Deligne (Bỉ), Charles Fefferman (Mỹ), Grigory Margulis (Liên Xô), Daniel Quillen (Mỹ)
1974: Enrico Bombieri (Ý), David Mumford (Mỹ)
1970: Alan Baker (Anh), Heisuke Hironaka (Nhật), Sergei Petrovich Novikov (Liên Xô), John Griggs Thompson (Anh)
1966: Michael Atiyah (Anh), Paul Joseph Cohen (Mỹ), Alexander Grothendieck (Pháp), Stephen Smale (Mỹ)
1962: Lars Hörmander (Thụy Điển), John Milnor (Mỹ)
1958: Klaus Roth (Anh), Rene Thom (Pháp)
1954: Kunihiko Kodaira (Nhật Bản), Jean-Pierre Serre (Pháp)
1950: Laurent Schwartz (Pháp), Atle Selberg (Na Uy)
1936: Lars Ahlfors (Phần Lan), Jesse Douglas (Mỹ)


Nguồn: Tổng hợp

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2011

10 công trình xây dựng vĩ đại nhất thế giới

1. Cầu cạn Millau Viaduct (Pháp)


Cầu cạn Millau Viaduct là cây cầu cao nhất thế giới, với đỉnh cao nhất của một cột của nó là 343 m. Nó được xây dựng bắc qua vùng thung lũng của sông Tarn, thuộc miền Nam nước Pháp. Cầu bao gồm 8 nhịp bằng thép và được chống đỡ bởi 7 trụ tháp bằng bê tông với tổng chiều dài 2.460 m. 
Chi phí xây dựng công trình xấp xỉ 400 triệu euro, được khởi công xây dựng vào ngày 10 tháng 10 năm 2001 và chính thức khánh thành vào ngày 14 tháng 12 năm 2004. 
Vào năm 2006, cầu cạn Millau Viaduct đã đạt được giải thưởng công trình kiến trúctiêu biểu do Hiệp hội quốc tế về cầu và kết cấu công trình (IABSE) trao tặng.

2. Mái vòm của nhà thờ Santa Maria del Fiore (Italia)
Nhà thờ Santa Maria del Fiore là một trong những nhà thờ công giáo lớn nhất châu Âu, tọa lạc tại một trong những thành phố đẹp nhất nước Ý, Florence. Đây là công trình được xây dựng trong một thời gian dài, từ phong cách thiết kế kiến trúc Gô-tic của kiến trúc sư Arnolfo di Cambio lúc bắt đầu xây dựng vào năm 1296 đến khi được hoàn thành vào năm 1436 với cấu trúc mái vòm được thiết kế bởi kiến trúc sư Filippo Brunelleschi. Riêng phần mái vòm được xây dựng từ năm 1420 đến năm 1436 và nó trở thành mái vòm cấu trúc hình bát giác đầu tiên trong lịch sử được xây dựng mà không cần khung chống trụ bằng gỗ. Vì vậy, toàn bộ kiến trúc này là một trong những công trình xây dựng ấn tượng nhất của thời kỳ Phục Hưng và hiện nay vẫn là mái vòm bằng gạch lớn nhất từng được xây dựng trên thế giới.





3. Nhà thờ Hagia Sophia (Thổ Nhĩ Kỳ)
Nhà thờ Hagia Sophia (Thổ Nhĩ Kỳ) là một nhà thờ Thiên chúa giáo, sau là nhà thờ Hồi giáo, và nay là một viện bảo tàng ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Đặc biệt nổi tiếng vì vòm trần lớn và là một trong những công trình mái bát úp đồ sộ trên thế giới, tòa nhà này được xem là hình ảnh thu nhỏ của kiến trúc Byzantine. Công trình kiến trúc này được xây dựng và trang trí chỉ trong 6 năm từ năm 532 đến năm 537 và nó nắm giữ vị trí là nhà thờ lớn nhất thế giới trong vòng gần 1000 năm, cho đến khi nhà thờ Seville hoàn thành vào năm 1520.





4. Hệ thống đê biển (Hà Lan)
Sau khi 18.000 nguời bị chết trong một trận lũ lụt vào năm 1953, Hà Lan đã quyết định xây dựng những con đê biển bằng bê tông để hạn chế thiên tai và ngăn chặn nước mặn xâm lấn những vùng đất thấp. Dự án này kéo dài từ năm 1958 đến năm 1997 với chi phí lên đến hàng ngàn tỉ Guider (đơn vị tiền tệ của Hà Lan khi đó). Bốn đập ngăn chính, trong đó có 2 cửa khóa, cùng với những đập phụ đã được dựng lên gần các cửa sông. Điều này làm cho Hà Lan không chỉ nổi tiếng về hoa Tulip, cối xay gió, những đôi giày gỗ... mà còn nổi tiếng bởi những công trình biển vĩ đại hàng đầu thế giới. Hiện nay, Hà Lan được coi là quốc gia có hệ thống đê biển nhân tạo dài nhất thế giới.





5. Kim tự tháp Khufu – còn có tên gọi khác là Cheops (Ai Cập)
Những kim tự tháp tại Giza là những nguyên bản thiết kế kiến trúc kế thừa từ thời nguyên thủy đã được xây dựng bằng cách xếp chồng các khối đá lớn lên nhau, tạo thành những khối lăng trụ khổng lồ độc đáo bậc nhất trong thế giới kiến trúc và toán học với quy mô xây dựng tối tân nhất. 
Nhiều người nhận địng rằng kim tự tháp khổng lồ Khufu được xây dựng với số lượng khối đá nhiều hơn bất kỳ công trình nào từng được xây dựng với số lượng ước tính lên đến hơn 2.300.000 và trọng lượng của từng khối là 2,5 tấn. 
Diện tích phần chân đế của công trình là 241 m2 và chiều cao là 153m. Góc nghiêng của các mặt hình tam giác là 51,5 độ. Bình phương chiều cao của công trình bằng với diện tích của từng bề mặt hình tam giác. 
Thời gian xây dựng kim tự tháp Khufu từ năm 2.600 đến 2.480 trước Công nguyên và nó được xem là công trình cao nhất thế giới trong suốt 4.000 năm sau đó cho đến khi nhà thờ Lincoln được xây dựng vào năm 1.300.


6. Hệ thống thoát nước ngầm ở London (Anh)
Hệ thống thoát nước ngầm ở London là một phần của hệ thống cơ sở hạ tầng về nước phục vụ cho London. Hệ thống hiện đại này đã được xây dựng trong suốt khoảng thời gian cuối thế kỷ 19 nhưng có vẻ như hệ thống này vẫn được chính quyền London đầu tư mở rộng và tăng thêm nhiều nguồn đầu tư cho công trình.
Kiến trúc sư Joseph Bazalgette, kỹ sư trưởng của Hội đồng quản trị các công trình tại thủ đô London chịu trách nhiệm cho việc đại trùng tu hệ thống thoát nước ở London từ năm 1858 đến năm 1865. Vào mùa hè năm 1858, London đã bị bao bọc bởi một đám mây mùi hôi ô nhiễm vô hình, mà còn được biết đến như là “Mùi hôi thối khủng khiếp của London”.

Chính vì vậy, Quốc hội đã nhận thấy tính cấp bách của vấn đề cần có một hệ thống thoát nước hiện đại cho thành phố vào thời điểm hiện tại vì môi trường nước trong các khu dân cư của thành phố bị ô nhiễm nghiêm trọng. Trong vòng bảy năm, Joseph Bazalgette đã thiết kế và xây dựng một hệ thống chặn cống phức tạp và những trạm bơm để đổ chất thải của thành phố vào sông Thames, ở khoảng cách rất xa lưu vực sông trong thành phố.

Từ đó, chất thải chỉ phải mất một quãng di chuyển ngắn để ra biển, không còn là mối đe dọa đến nguồn cung cấp nước uống cho các khu dân cư. Hơn 140 năm sau, hệ thống thoát nước vẫn còn trong tình trạng sử dụng tốt và được coi là một thành tựu xây dựng đáng kinh ngạc ngay cả theo tiêu chuẩn thiết kế kiến trúc hiện đại.




7. Đấu trường La Mã (Italia)
Đây là một trong những đấu trường lớn trên thế giới, được sử dụng cho các võ sĩ giác đấu thi đấu và trình diễn công chúng. Công trình được xây dựng khoảng năm 70 và 72 sau Công Nguyên dưới thời hoàng đế Vespasian với kích thước cao 48, dài 189 m, rộng 156 m. Không giống như các đấu trường trước đó, công trình này là một cấu trúc đứng tự do, được xấy trên một mặt đất bằng phẳng chứ không phải dựa vào đồi hay chỗ lõm tự nhiên.
Tường bên ngoài thoạt đầu có chu vi 545 m và cần phải dùng 100.000 m3 đá travertine được giữ với nhau bằng 300 tấn vòng kẹp sắt. Nó có thể chứa tới 50.000 người và được thiết kế tốt đến nỗi mỗi người có thể ra khỏi tòa nhà này trong vòng mấy phút. Bí quyết nằm trong việc sử dụng tài tình các mái vòm cuốn, các hành lang và các bậc lên xuống dẫn tới chỗ ngồi. Các mái vòm bên trên tầng trệt tao ra 80 lối vào chỗ đông người, mỗi lối vào có đánh số khách tìm thấy chỗ ngồi của họ. Một tấm vải bạt khổng lồ che nắng che mưa thường được căng ra bên trên để che nắng và trong các buổi trình diễn đêm, một đèn chùm bắng sắt khổng lồ treo lơ lửng bên trên đấu trường.
Tuy nhiên, qua nhiều thế kỷ, nó đã bị hư hỏng do thiên nhiên tác động. Chu vi phía bắc của Đấu trường vẫn còn nguyên với dấu vết trùng tu của thế kỷ 19. Phần còn lại của Coloseo ngày ngày nay là bức tường gốc như lúc đang xây.






8. Đường hầm qua eo biển Manche
Công trình này là đường hầm dưới biển dài nhất thế giới với chiều dài 50,45 km (bao gồm 3,3km dưới đất bên phía Pháp, 9,3km ngầm bên phía Anh và 37,9km ngầm dưới biển) đi qua eo biển Manche nối Folkestone, Kent ở Anh với Coquelles gần Calais ở phía bắc Pháp gồm hai hầm đường sắt và một đường hầm dịch vụ, được hoàn thành vào năm 1994 sau 6 năm nỗ lực xây dựng với sự hợp tác của 2 quốc gia Anh và Pháp.

Đường hầm qua eo biển Manche đã làm toại nguyện giấc mơ hàng thế kỷ của người Châu Âu về việc nối liền Vương quốc Anh với phần còn lại của châu lục này. Không chỉ là một đường hầm, nó còn là sự kết hợp tuyệt vời của hệ thống kết cấu vững chắc và máy móc rất đồ sộ dưới lòng đại dương, biến tham vọng ngoài sức tưởng tượng của loài người thành sự thật. Chạy xuyên qua hai nhánh chính của đường hầm (thành đường hầm dày 1,5 m) là những con tàu điện hai tầng lớn nhất trên thế giới, có chiều ngang thân tàu tới 4,2m với tốc độ lên tới 300km/h.

Hệ thống xe bảo dưỡng và phương tiện cấp cứu tận dụng đường hầm thứ ba nằm giữa hai đường hầm lớn. Những chiếc pittong khổng lồ liên tục đóng và mở làm lưu thông không khí và khí thải sinh ra từ đầu tầu. Hệ thống đường ống dài gần 500 km chứa nước lạnh chạy dọc theo lan can đường hầm giữa giúp hạ nhiệt sức nóng tạo ra từ sự cọ sát không khí bên trong đường hầm. Công trình được xem như là một trong bảy kỳ quan của thế giới hiện đại.




9. Kênh đào Panama
Đây là kênh đào chính cho tàu thuyền đi qua, cắt ngang eo đất Panama tại Trung Mỹ, nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương với tổng chiều dài 80 km, chiều rộng 100m và chiều sâu thay đổi theo từng đoạn, thấp nhất là 12,5m. Việc xây dựng kênh đào này là một trong số những dự án công trình lớn nhất và khó khăn nhất đã thực hiện từ trước đến nay. Dưới sự chỉ dẫn của Đại tá George Washington Goethal, 42.000 công nhân đã nạo vét, cho nổ mìn và đào con kênh từ Colon đến Balboa.

Họ đã di chuyển một lượng đất đá đủ để chôn đảo Mahattan xuống sâu 3,6 m hoặc đủ để mở một đường hầm rộng 4,8 m tới tâm Trái đất. Con kênh đã hoàn thành đúng thời hạn (từ năm 1904 đến 1914) và với ngân sách vừa phải (375 triệu USD – tính theo thời giá lúc bấy giờ). Mặc dù vậy, thiệt hại về nhân mạng khi tham gia xây dưng kênh đào này lên đến 25.000 người. Con kênh ngày nay vẫn hoạt động giống như những năm 1914 với hơn 14.000 phương tiện tàu thuyền đi ngang qua mỗi năm. Kênh Panama là một thành quả vĩ đại của các kỹ sư địa chất - kỹ thuật và sức người.




10. Tòa tháp Burj Khalifa (Dubai, Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất)
Tòa tháp trị giá 1,69 tỷ USD này được khởi công vào tháng 9 năm 2004 và vừa được khánh thành vào ngày 4 tháng 1 năm 2010. Tổng thể của toà nhà gồm có 3 khối được sắp xếp xung quanh một lõi trung tâm. Do toà tháp được xây dựng trên nền sa mạc bằng phẳng, những phần thụt vào được bố trí tại từng khối và hướng lên theo thiết kế kiến trúc hình xoắn ốc của toà nhà, giúp giảm đi mặt tiết diện của toà tháp khi nó vươn cao lên bầu trời.

Kiến trúc của Buji Khalifa là sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống của đạo Hồi và tính phức tạp trong thiết kế kiến trúc hiện đại để hình thành nên một công trình đứng vững bền lâu trong vùng khí hậu sa mạc khắc nghiệt. Thiết kế kiến trúc độc đáo này không chỉ giúp giảm tác động của sức gió lên toà nhà mà còn đem đến cho những người sinh sống và làm việc trong toà nhà có được một tầm nhìn đáng kinh ngạc đến những khu vực xung quanh.

Nó hiện là công trình cao nhất thế giới với chiều cao 828 m và 162 tầng, số tầng nhiều hơn bất cứ tòa nhà chọc trời nào trên thế giới hiện nay. Buji Khalifa đã trở thành một biểu tượng mới của thế giới Ả rập, không phải chỉ bởi vì nó làm tăng thêm nét hiện đại của Dubai mà còn tượng trưng cho tầm nhìn rộng, tính quyết đoán, sự cách tân và những thành tựu đáng khâm phục của con người. Bằng cách sắp xếp những khả năng và huy động nguồn nhân lực của mình, Dubai đã thành công trong việc xây dựng một kỳ quan kiến trúc hiện đại và áp dụng vào đó những thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới.




Theo DiaOcOnline.vn