Tìm kiếm

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

ĐH Tài nguyên và Môi trường TPHCM: Đào tạo nhân lực CLC để giải quyết bài toán cho hạ tầng phía Nam

GDVN -Vai trò và nhiệm vụ của trường không chỉ dừng lại ở việc giảng dạy, mà còn mang trọng trách lớn lao đối với sự phát triển của cả vùng kinh tế trọng điểm.

Trong bối cảnh nước ta đang chủ trương, hướng tới quy hoạch, xây dựng những hạ tầng kỹ thuật, đô thị thông minh, đô thị xanh, đô thị hiện đại và đáng sống, có thể nói, nhu cầu tuyển dụng về nhân lực ngành Quản lý đô thị và Công trình ngày càng gia tăng cùng với yêu cầu ngày càng cao.

Giữ vai trò xương sống đối với sự phát triển bền vững của xã hội

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Xuân Trường - Trưởng Bộ môn Quản lý Hạ tầng đô thị thuộc Khoa Trắc địa, Bản đồ và Công trình - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ, trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn đô thị hóa mạnh mẽ, ngành Quản lý đô thị và Công trình thực sự đóng một vai trò "xương sống" đối với sự phát triển bền vững của xã hội.

Thứ nhất, giúp giải quyết áp lực đô thị hóa. Tốc độ đô thị hóa nhanh mang lại tăng trưởng kinh tế nhưng cũng kéo theo vô số hệ lụy. Trên thực tế, những đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội đang phải đối mặt hàng ngày với bài toán kẹt xe, ngập lụt, ô nhiễm môi trường và quá tải hạ tầng. Chính vì vậy, nguồn nhân lực Quản lý đô thị và Công trình chính là những người trực tiếp "giải phẫu", quy hoạch và vận hành hệ thống hạ tầng để giải quyết các vấn đề đó.

Thứ hai, giúp phát triển đô thị thông minh và bền vững. Xu hướng xây dựng Smart City (thành phố thông minh) và Green City (thành phố xanh) đã trở thành mục tiêu thiết thực trong bối cảnh hiện nay. Việt Nam đang rất “khát” những chuyên gia am hiểu cả về kỹ thuật công trình lẫn quản lý vĩ mô để thiết kế và vận hành các hệ thống đô thị ứng dụng công nghệ cao.

Thứ ba, giúp quản lý tài sản và dự án “khổng lồ”. Sự bùng nổ của thị trường bất động sản, các khu đô thị mới và những công trình giao thông trọng điểm hiện nay đòi hỏi một lực lượng lớn kỹ sư quản lý dự án, quản lý chất lượng và đặc biệt là quản lý vận hành công trình sau khi hoàn thiện để chống xuống cấp.


Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Xuân Trường - Trưởng Bộ môn Quản lý Hạ tầng đô thị thuộc Khoa Trắc địa, Bản đồ và Công trình - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NTCC

Trước bối cảnh đó cùng lợi thế được trang bị khối kiến thức đa ngành (giao thoa giữa kỹ thuật hạ tầng, quy hoạch đô thị, quản lý hạ tầng kỹ thuật, quản lý tòa nhà…), sinh viên ngành Quản lý đô thị và Công trình sau khi tốt nghiệp có phổ nghề nghiệp rất rộng mở.

Cụ thể, các em có thể làm việc tại những cơ quan quản lý nhà nước như trở thành chuyên viên tại các Sở/Phòng Xây dựng, Quy hoạch - Kiến trúc, Nông nghiệp và Môi trường, Quản lý đô thị, hoặc Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng;

Làm việc tại những doanh nghiệp bất động sản và Quản lý vận hành với vị trí kỹ sư quản lý vận hành khu đô thị, quản lý tòa nhà, chuyên viên phát triển dự án, hay ban quản lý rủi ro công trình; Làm việc tại công ty tư vấn, thiết kế, xây dựng với vị trí kỹ sư tư vấn lập dự án, đấu thầu, quản lý thi công, giám sát chất lượng và bảo trì công trình hạ tầng kỹ thuật (cấp thoát nước, giao thông, môi trường, cây xanh…).

Ngoài ra, sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng có thể làm việc tại các viện nghiên cứu quy hoạch, phát triển đô thị hoặc tham gia giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng.

Tùy vào vị trí việc làm và kinh nghiệm làm việc, sinh viên ngành Quản lý đô thị và Công trình sau khi tốt nghiệp thường có mức lương khởi điểm khoảng từ 8.000.000 - 12.000.000 VNĐ/tháng; ở cấp bậc chuyên viên (1 - 3 năm kinh nghiệm) có thu nhập khoảng 12.000.000 - 20.000.000 VNĐ/tháng; và ở cấp bậc quản lý (từ 5 năm kinh nghiệm trở lên) như Trưởng phòng, Giám đốc dự án, Giám đốc ban quản lý tòa nhà/khu đô thị, mức lương có thể từ 30.000.000 - 50.000.000 VNĐ/tháng hoặc cao hơn rất nhiều nếu làm việc cho các tập đoàn bất động sản lớn hoặc doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài.

Đặc biệt, theo thầy Trường, với lợi thế "độc tôn" khi là cơ sở duy nhất đào tạo kỹ sư ngành Quản lý đô thị và Công trình (trình độ đại học) tại Thành phố Hồ Chí Minh, vai trò và nhiệm vụ của trường không chỉ dừng lại ở việc giảng dạy, mà còn mang trọng trách lớn lao đối với sự phát triển của cả vùng kinh tế trọng điểm.

Cụ thể, nhà trường có vai trò là "trạm cung cấp" nhân lực huyết mạch cho "đầu tàu kinh tế" phía Nam. Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Đông Nam Bộ là vùng có tốc độ đô thị hóa bùng nổ và sôi động nhất cả nước. Do đó, nhu cầu về các kỹ sư am hiểu quy hoạch, quản lý dự án và vận hành hạ tầng ở đây là rất lớn. Trong bối cảnh đó, việc đào tạo nguồn nhân lực này ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh giúp sinh viên tiếp cận trực tiếp với các đại công trình, các khu đô thị phức hợp đang xây dựng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết sách vở và thực tế công trường.

Bên cạnh đó, nhà trường còn giữ vai trò “tiên phong” giải quyết các bài toán đô thị đặc thù của miền Nam. Đô thị phía Nam (đặc biệt là khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long) đang đối mặt với những thách thức vô cùng đặc thù: ngập lụt do triều cường, sụt lún nền đất, kẹt xe nghiêm trọng và các tác động của biến đổi khí hậu. Chính vì vậy, nhà trường không chỉ là nơi đào tạo, mà còn là một trung tâm nghiên cứu ứng dụng (R&D).

Hơn nữa, trường có trách nhiệm đi đầu trong việc cập nhật và định hình chuẩn mực giáo dục cho ngành Quản lý đô thị và Công trình. Thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang xu hướng Smart City (Thành phố thông minh), do đó nhiệm vụ của trường là phải nhanh chóng số hóa chương trình học, đưa các công nghệ lõi như GIS (Hệ thống thông tin địa lý), BIM (Mô hình thông tin công trình), hay ứng dụng IoT trong quản lý vận hành tòa nhà vào giảng dạy để kỹ sư Việt Nam không bị tụt hậu.

Không những vậy, nhà trường còn giữ vai trò là “cầu nối chiến lược giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp’’. Việc thiếu vắng các cơ sở đào tạo cạnh tranh trong cùng khu vực giúp trường dễ dàng quy tụ sự chú ý của cả cơ quan công quyền lẫn khối doanh nghiệp tư nhân. Chính vì vậy, trường đang tận dụng vị thế này để xây dựng mạng lưới liên kết chặt chẽ với các Sở/Ban/Ngành cũng như những tập đoàn bất động sản lớn. Từ đó giúp đảm bảo đầu ra cho sinh viên, đồng thời nhận "đơn đặt hàng" đào tạo sát với nhu cầu thực tế nhất của thị trường lao động.

Tóm lại, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đang nắm giữ “chiếc chìa khóa” quan trọng để giải quyết bài toán khát nhân lực chất lượng cao trong công tác quản lý vĩ mô lẫn vi mô mạng lưới hạ tầng phía Nam.

Thông tin thêm, thầy Trường cho biết, trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, để không bị tụt hậu và thực sự tạo ra một thế hệ kỹ sư có khả năng giải quyết các bài toán đô thị của tương lai, nhà trường và bộ môn Quản lý Hạ tầng đô thị đã và đang thực hiện một chiến lược phát triển chương trình đào tạo mang tính đột phá.

Thứ nhất, tái cấu trúc chương trình học theo hướng "số hóa" (Digital Transformation). Cụ thể, công nghệ không còn là môn học tự chọn mà phải là nền tảng xuyên suốt; khi đó chương trình đào tạo cần dịch chuyển từ việc dạy sinh viên "quản lý trên giấy" sang "quản lý trên dữ liệu".

Nhà trường đang thực hiện việc đưa các công cụ lõi vào giảng dạy bắt buộc như tích hợp sâu rộng BIM, GIS, và phần mềm quản lý dự án vào các đồ án môn học; mở rộng các học phần về Smart City qua việc bổ sung kiến thức về Internet vạn vật (IoT) trong quản lý vận hành hạ tầng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và Big Data trong việc phân tích luồng giao thông, quản lý năng lượng và chất thải đô thị.

Thứ hai, tích hợp tư duy "Xanh và Bền vững" (Green & Sustainability). Bối cảnh biến đổi khí hậu đòi hỏi kỹ sư phải có tư duy phát triển bền vững ngay từ khâu quy hoạch đến vận hành.

Thông tin về công tác tuyển sinh ngành Quản lý đô thị và Công trình những năm qua, thầy Trường cho biết, trong 2 năm đầu tuyển sinh (tính từ khóa đầu tiên vào năm 2022) do ngành mới mở nên số lượng tuyển không đạt chỉ tiêu mà nhà trường đã đăng ký với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên, đến năm thứ 3 và năm thứ 4 tuyển sinh, nhà trường đã tuyển đủ chỉ tiêu đề ra. Có thể nói, sự quan tâm của xã hội đối với ngành học này đang tăng lên rất nhanh trong hai năm trở lại đây.

Mặc dù có nhiều thuận lợi lớn khi là trường duy nhất đào tạo tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đào tạo ngành này ở trình độ đại học, song trong công tác tuyển sinh, nhà trường cũng gặp phải một số vấn đề như từ sau đại dịch COVID-19, xu hướng dịch chuyển người học từ khối ngành kỹ thuật trong đó có Kiến trúc – xây dựng sang các lĩnh vực khác là rất lớn. Do đó, tình hình tuyển sinh cho nhóm ngành này ở hầu hết các trường đại học giảm đi đáng kể cộng thêm sự hiểu nhầm của phụ huynh và học sinh đối với Trường đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh là chỉ chuyên đào tạo các mảng liên quan đến Môi trường, mà không biết đây là một trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, nên thiếu sự quan tâm tìm hiểu đầy đủ các chuyên ngành mà nhà trường đang đào tạo.

Vì sao doanh nghiệp lựa chọn đặt hàng nhân lực ngành Quản lý đô thị và Công trình của nhà trường?

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quản lý xây dựng và Đô thị Miền Nam là một trong những doanh nghiệp đang đặt hàng nhân lực ngành Quản lý đô thị và Công trình đối với sinh viên Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh.

Thạc sĩ Lê Quang Nam - Phó giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quản lý xây dựng và Đô thị Miền Nam cho hay, Việt Nam đang trong giai đoạn đô thị hóa nhanh, đặc biệt tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung. Các dự án về quy hoạch đô thị, hạ tầng kỹ thuật, môi trường đô thị, TOD, chuyển đổi số đô thị… đều cần nguồn nhân lực chuyên sâu.

Hơn nữa, trong giai đoạn vừa qua, công tác quy hoạch đô thị, đầu tư và phát triển đô thị chưa chú trọng nhiều đến vai trò quản lý đô thị, quản lý các công trình, dự án đô thị như công trình nhà ở cao tầng, công trình hạ tầng kỹ thuật về giao thông đô thị (đường sắt đô thị, đường thủy nội địa, bến cảng, hệ thống cấp thoát nước, ...); Mặt khác, ngành Quản lý đô thị và Công trình đáp ứng trực tiếp các lĩnh vực như Quản lý quy hoạch – kiến trúc; Quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị; Quản lý dự án đầu tư xây dựng; Quản lý môi trường đô thị,…

Vì vậy, đặt hàng đào tạo nhân lực ngành Quản lý đô thị và Công trình giúp đơn vị đảm bảo nguồn nhân lực đúng ngành – đúng nhu cầu – đúng thời điểm.


Thạc sĩ Lê Quang Nam, Phó giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quản lý xây dựng và Đô thị Miền Nam. Ảnh: NVCC

Không những vậy, sinh viên ngành Quản lý đô thị và Công trình Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều thế mạnh khi kiến thức đào tạo được kết hợp giữa quản lý đô thị, môi trường, đất đai và hạ tầng; Đào tạo gắn với thực tế (thực tập, đồ án, GIS, quy hoạch); Sinh viên được trang bị kiến thức pháp lý, các công cụ kỹ thuật (GIS, AutoCAD, quản lý dữ liệu đô thị), tư duy tích hợp (kinh tế – môi trường – xã hội), … Sinh viên ngành này còn được đào tạo kiến thức về quản lý dữ liệu không gian, phân tích hệ thống đô thị, ứng dụng công nghệ vào quản lý,… Đây là những yếu tố rất quan trọng trong chiến lược phát triển đô thị đến 2030–2045.

Thực tế cho thấy, nhiều cơ quan, đặc biệt là các phòng Quản lý đô thị tại cấp cơ sở sau sáp nhập theo mô hình chính quyền hai cấp đang gặp khó khăn về nhân sự. Doanh nghiệp cũng trong tình trạng tương tự khi thiếu nguồn nhân lực có khả năng kết hợp đồng thời giữa kỹ thuật và quản lý.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh phát triển đô thị thông minh và bền vững, nhu cầu tuyển dụng nhân lực ngành này đang gia tăng mạnh mẽ, mang tính cấp thiết và lâu dài do tác động của quá trình đô thị hóa và yêu cầu chuyển đổi số. Tuy nhiên, thị trường hiện vẫn thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là những người có khả năng tích hợp giữa kỹ thuật, quản lý và công nghệ.

Khi tuyển dụng, doanh nghiệp ưu tiên các tiêu chí như chuyên môn đúng ngành, kỹ năng thực hành tốt, khả năng ứng dụng công nghệ như hệ thống thông tin địa lý, mô hình thông tin công trình, trí tuệ nhân tạo; tư duy tích hợp và khả năng thích ứng với mô hình đô thị thông minh, cùng với phẩm chất nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm. Xu hướng tuyển dụng hiện nay là theo vị trí việc làm cụ thể và ưu tiên ứng viên có thể làm việc ngay, hạn chế đào tạo lại.

Thông tin thêm, ông Nam cho biết, doanh nghiệp hiện đã tham gia vào quá trình đào tạo cùng nhà trường thông qua việc tiếp nhận sinh viên thực tập, tổ chức học kỳ doanh nghiệp, giảng dạy chuyên đề và góp ý chương trình đào tạo. Tuy nhiên, mức độ tham gia vẫn chưa sâu và còn thiếu tính hệ thống.

Vì vậy, trong bối cảnh phát triển đô thị thông minh và bền vững, cần có thêm các cơ chế thúc đẩy như triển khai đặt hàng đào tạo chính thức, tăng cường đào tạo thực hành tại doanh nghiệp, xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia, cập nhật chương trình đào tạo linh hoạt và phát triển đội ngũ giảng viên, chuyên gia theo hướng gắn với thực tiễn.

Đặc biệt, doanh nghiệp khi tham gia thực hiện các chương trình, đề án, đề tài chính sách cho các bộ, ngành và địa phương sẽ có lợi thế về hiểu biết pháp luật mang tính thời sự cũng như nắm bắt sát thực tiễn đô thị và công trình. Từ đó, có thể cung cấp các dẫn chứng, tài liệu và bài giảng thực tế, giúp sinh viên tiếp cận nhanh với công việc sau khi tốt nghiệp, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực.

Sinh viên ngành Quản lý đô thị và Công trình nói gì khi tham gia học tập tại nhà trường?

Theo chia sẻ từ em Hồ Minh Trí – sinh viên năm tư khóa đầu tiên ngành Quản lý đô thị và Công trình, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, việc lựa chọn theo học ngành này xuất phát từ nhận thức đây là lĩnh vực mang tính tổng hợp cao, gắn trực tiếp với nhu cầu phát triển thực tiễn của xã hội hiện nay.

Minh Trí cho biết, so với nhiều ngành kỹ thuật khác, ngành Quản lý đô thị và Công trình không chỉ tập trung vào chuyên môn kỹ thuật mà còn tích hợp nhiều nội dung như quản lý dự án, quy hoạch đô thị, kiến trúc – cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật, đất đai, kinh tế xây dựng, pháp lý và môi trường. Nhờ đó, người học có thể hình thành tư duy tổng thể để giải quyết các vấn đề đô thị như ùn tắc giao thông, ngập lụt hay tổ chức không gian sống.


Sinh viên ngành Quản lý đô thị và Công trình tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh trong giờ thực hành. Ảnh: NTCC

Cũng theo sinh viên này, dù là ngành học còn mới, song đây lại là lợi thế khi cơ hội việc làm rộng mở và mức độ cạnh tranh chưa cao so với các ngành truyền thống. Sau khi tốt nghiệp, người học có thể đảm nhiệm nhiều vị trí tại cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, doanh nghiệp bất động sản hoặc các ban quản lý dự án hạ tầng. Đồng thời, ngành học phù hợp với xu hướng phát triển đô thị thông minh, bền vững trong tương lai.

Nhận thấy bản thân phù hợp với vai trò tổ chức, điều phối và giải quyết các vấn đề tổng thể, Minh Trí đánh giá đây là lựa chọn giúp phát huy năng lực cá nhân và định hướng nghề nghiệp lâu dài.

Chia sẻ thêm về quá trình học tập, Minh Trí cho hay, sinh viên ngành Quản lý đô thị và Công trình tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh được hưởng nhiều lợi thế khi chương trình đào tạo của nhà trường có mức độ gắn kết cao với thực tiễn. Nội dung đào tạo bám sát nhu cầu đô thị hóa, có sự kết hợp giữa kỹ thuật và quản lý, đồng thời tiên phong ứng dụng công nghệ số thông qua việc đưa hệ thống thông tin địa lý và các phần mềm quản lý đô thị vào giảng dạy. Chương trình cũng thường xuyên cập nhật theo các quy định pháp luật như Luật Đất đai, Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị Việt Nam.

Trong quá trình học, các em còn có cơ hội tham gia các dự án thực tế và kỳ thực tập chuyên sâu, qua đó chuyển hóa kiến thức lý thuyết thành năng lực thực hành. Minh Trí cho biết đã trực tiếp tham gia các đồ án mô phỏng và khảo sát thực địa có độ phức tạp cao, như nghiên cứu và đề xuất phương án quy hoạch khu đô thị quy mô 200 ha với dân số khoảng 100.000 người; thu thập, xử lý dữ liệu về hạ tầng và trật tự giao thông; sử dụng

Tường San



Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Cần cuộc 'cách mạng' để thu hút sinh viên ngành Kiến trúc - Xây dựng

(NXD) - Theo PGS.TS. Đặng Xuân Trường, Ủy viên BCH Tổng hội xây dựng Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật xây dựng TP. Hồ Chí Minh, Trưởng bộ môn Quản lý Hạ tầng đô thị (Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh) cho rằng: “Để thu hút sinh viên trở lại với nhóm ngành Kiến trúc - Xây dựng trong bối cảnh hiện nay, các trường đại học không thể chỉ dựa vào uy tín sẵn có mà cần thực hiện một cuộc "cách mạng" về hình ảnh và nội dung đào tạo…”. 

PGS.TS. Đặng Xuân Trường phát biểu tại buổi tọa đàm do Tổng hội Xây dựng Việt Nam chủ trì với đại diện các trường đại học có đào tạo ngành Kiến trúc - Xây dựng tại khu vực Phía Nam

“Nghịch lý” trong đào tạo Kiến trúc - Xây dựng

Trong khuôn khổ buổi tọa đàm do Tổng hội Xây dựng Việt Nam chủ trì với đại diện các trường đại học có đào tạo ngành Kiến trúc - Xây dựng tại khu vực Phía Nam, phóng viên Tạp chí Người xây dựng đã có cuộc trao đổi riêng với PGS.TS. Đặng Xuân Trường đến từ Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh.

PVThưa PGS.TS. Đặng Xuân Trường! Được biết ông hiện là Chủ nhiệm ngành Quản lý đô thị và công trình, Trưởng Bộ môn Quản lý Hạ tầng đô thị tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh và đã từng có nhiều năm giảng dạy cũng như hoạt động trong ngành Xây dựng, xin ông cho biết hình hình nguồn nhân lực ngành Kiến trúc - Xây dựng tại Việt Nam hiện nay?

PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Tình hình nguồn nhân lực ngành Kiến trúc - Xây dựng hiện đang ở giai đoạn "nghịch lý". Khối lượng công việc bùng nổ nhưng lại thiếu hụt nhân sự trầm trọng, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao. Chúng ta có thể phân tích qua một vài con số như sau:

Ngành xây dựng đang đối mặt với "cơn khát" nhân lực lớn nhất trong vòng 5 năm qua do sự mất cân đối cung - cầu. Trong khi số lượng tin tuyển dụng tăng vọt (có thời điểm tăng hơn 170%) nhưng số lượng hồ sơ ứng tuyển lại giảm sâu (khoảng 40%). Điều này dẫn đến tình trạng nhiều nhà thầu phải từ chối dự án vì không đủ nhân lực thực hiện.

Tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ": Cơ cấu nhân lực tại Việt Nam hiện nay là 1 (kỹ sư) - 1,3 (trung cấp) - 0,5 (công nhân kỹ thuật). Trong khi đó, tỷ lệ chuẩn thế giới phải là 1- 4 -10. Điều này cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động trực tiếp có tay nghề.

Ngoài ra, chất lượng đào tạo chưa bắt kịp công nghệ: Khoảng 75% lao động ngành xây dựng là lao động thời vụ, chưa qua đào tạo bài bản. Các kỹ sư trẻ dù có bằng cấp nhưng thường thiếu kỹ năng thực tế, đặc biệt là khả năng ứng dụng các công nghệ mới như BIM (Building Information Modeling) hay AI trong quản lý và thiết kế.

PV: Thưa PGS, thực trạng nguồn nhân lực của ngành Quản lý đô thị và công trình hiện nay như thế nào?

PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Ngành Quản lý đô thị và Công trình như một "điểm nóng" mới. Đây là ngành học mang tính liên ngành (kỹ thuật, kinh tế, xã hội) đang trở thành tâm điểm do tốc độ đô thị hóa nhanh tại Việt Nam (dự kiến đạt trên 50% vào năm 2030).

Với gần 900 đô thị trên cả nước, nhu cầu về nhân sự quản lý vận hành tòa nhà, quy hoạch hạ tầng thông minh và quản lý công trình đô thị là cực kỳ lớn. Tuy nhiên, nguồn cung nhân lực này vẫn còn rất khan hiếm vì đây là chuyên ngành đào tạo khá mới tại nhiều trường đại học cũng như địa phương. Hiện nay, trong cả nước mới chỉ có khoảng 4 trường đại học đào tạo ngành này ở trình độ đại học.

Các doanh nghiệp hiện nay không chỉ tìm kiếm người biết quản lý hạ tầng truyền thống mà còn yêu cầu năng lực quản trị dữ liệu, vận hành hệ thống IoT và phát triển bền vững. Mức lương cho các vị trí quản lý đô thị hoặc kỹ sư công trình đô thị có trình độ cao hiện đang rất cạnh tranh, dao động từ 15 - 25 triệu VNĐ/tháng đối với nhân sự trẻ và cao hơn nhiều đối với cấp quản lý.

PV: Xin PGS cho biết thêm về những thách thức và cơ hội cho nguồn nhân lực kiến trúc - xây dựng hiện nay?

PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Thị trường lao động nói chung hiện nay đang ở giai đoạn cạnh tranh gay gắt từ các ngành dịch vụ, kinh tế, quản trị logistics… khiến lao động dịch chuyển khỏi ngành xây dựng. Các dự án hạ tầng trọng điểm (Sân bay Long Thành, metro, đường cao tốc) đang tạo ra "sân chơi" khổng lồ.

Công nghệ áp lực phải làm chủ AI, Big Data và các phần mềm mô phỏng phức tạp, giúp giảm bớt cường độ lao động chân tay và tăng độ chính xác trong quản lý. Điều kiện làm việc khắc nghiệt, thường xuyên đi công tác xa khiến giới trẻ có xu hướng e dè. Các doanh nghiệp đang cải thiện mạnh mẽ chế độ phúc lợi và môi trường làm việc để giữ chân người tài.

Nhận định hướng phát triển trong giai đoạn 2026 trở đi, nguồn nhân lực sẽ không còn phát triển theo chiều rộng (số lượng) mà chuyển dịch mạnh sang chiều sâu (chất lượng), đồng thời chuyển dần sang dạng chuyên môn hóa. Kỹ sư không chỉ giỏi kỹ thuật mà phải thạo cả quản trị và pháp lý xây dựng. Việc sở hữu các chứng chỉ hành nghề sẽ là "giấy thông hành" bắt buộc để đảm nhận các vị trí chủ chốt trong các dự án lớn. Xu hướng doanh nghiệp "đặt hàng" trực tiếp các trường đại học để đào tạo đúng nhu cầu thực tế sẽ ngày càng phổ biến.

PGS.TS. Đặng Xuân Trường cho rằng: Để thu hút sinh viên trở lại với nhóm ngành Kiến trúc - Xây dựng trong bối cảnh hiện nay, các trường đại học không thể chỉ dựa vào uy tín sẵn có mà cần thực hiện một cuộc "cách mạng" về hình ảnh và nội dung đào tạo.

Điều hành công trình từ xa thay vì đứng nắng gió trên công trường

PVĐể đáp ứng như cầu nhận lực phục vụ xã hội, đồng thời thu hút người học kiến trúc - xây dựng trở lại như giai đoạn trước đây, theo PGS, các cơ sở đào tạo cần làm gì trong giai đoạn hiện nay?

PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Để thu hút sinh viên trở lại với nhóm ngành Kiến trúc - Xây dựng trong bối cảnh hiện nay, các trường đại học không thể chỉ dựa vào uy tín sẵn có mà cần thực hiện một cuộc "cách mạng" về hình ảnh và nội dung đào tạo. Dưới đây là vài giải pháp mà theo tôi các trường cần phải triển khai mạnh mẽ trong giai đoạn 2026-2030:

(1) Thay đổi "định vị" ngành nghề từ "vất vả" sang "công nghệ cao". Nỗi e ngại lớn nhất của sinh viên và phụ huynh là việc học ngành kiến trúc - xây dựng hiện đang rất nặng và vất vả cho nhiều sinh viên, cũng như môi trường làm việc khắc nghiệt của ngành xây dựng khi đi làm. Nhà trường cần chứng minh rằng ngành Xây dựng hiện đại đã thay đổi như số hóa đào tạo: Thay vì chỉ học vẽ tay hay tính toán thủ công, chương trình cần đưa BIM (Building Information Modeling), Digital Twin (Bản sao số), và AI vào làm môn học cốt lõi.

Sinh viên sẽ thấy mình giống như những "kỹ sư công nghệ" điều hành công trình từ xa bằng dữ liệu thay vì chỉ đứng nắng gió trên công trường. Kiến trúc xanh và bền vững, nhấn mạnh vào yếu tố nhân văn và trách nhiệm xã hội. Các cuộc thi như "Kiến trúc xanh sinh viên" hay "Đô thị thông minh" giúp sinh viên thấy được ý nghĩa cao đẹp của nghề là cứu vãn môi trường và kiến tạo không gian sống hạnh phúc.

Giảng viên và sinh viên ngành Quản lý đô thị và Công trình (Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM) tham quan, trải nghiệm Tuyến Metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) ngày khai trương.

(2) Mô hình đào tạo "Gắn kết thực tế" (Industry-Aligned) Sinh viên ngày nay rất thực tế, họ muốn thấy cơ hội việc làm ngay từ khi còn đi học. Học kỳ doanh nghiệp là một ví dụ. Thay vì chỉ đi thực tập cuối khóa, trường nên phối hợp với các tập đoàn lớn (như Coteccons, BCONS, Hòa Bình, hay các đơn vị quản lý hạ tầng đô thị) để sinh viên có ít nhất 6 tháng - 1 năm làm việc thực tế có hưởng lương. Cam kết đầu ra và Học bổng doanh nghiệp giúp nhà trường liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong tài trợ học bổng "đích danh" và ký hợp đồng tuyển dụng ngay từ năm thứ 3.

(3) Đa dạng hóa và linh hoạt hóa chương trình học: Mở các chuyên ngành theo xu hướng mới. Thay vì chỉ có "Xây dựng dân dụng" hay “Kiến trúc dân dụng” chung chung, hãy tách nhỏ thành các chuyên ngành thu hút như Quản lý hạ tầng đô thị thông minh, Kiến trúc đô thị thông minh hay Thiết kế nội thất tích hợp công nghệ Smart-home… Hệ đào tạo cũng cần linh hoạt. Phát triển các hệ đào tạo từ xa hoặc vừa làm vừa học cho người đã đi làm muốn nâng cao hoặc bổ sung bằng cấp, tạo ra một hệ sinh thái học tập suốt đời.

(4) Nâng cao giá trị bằng cấp thông qua Chứng chỉ quốc tế. Nhà trường nên tích hợp việc đào tạo để sinh viên khi ra trường không chỉ có bằng đại học mà còn đủ điều kiện thi các chứng chỉ quốc tế hoặc chứng chỉ hành nghề sớm. Điều này giúp tăng khả năng cạnh tranh về mức lương (dự kiến mức lương nhân sự cao cấp ngành này sẽ tăng mạnh khi các dự án hạ tầng lớn như Đường sắt tốc độ cao, Sân bay Long Thành và nhiều dự án đô thị đồng loạt triển khai). Tổng Hội xây dựng Việt Nam cùng với Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức xét và đề nghị công nhận Kỹ sư Asean hàng năm cũng là một trong những cơ hội để Kỹ sư, Kiến trúc sư sở hữu Chứng chỉ hành nghề Quốc tế có giá trị.

Vâng, xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư!

Lê Phong (thực hiện)